Page loading ... Please wait.

 »Main Menu
 Trang chủ
 Xuất nhập khẩu
 Tin doanh nghiệp
 Tài chính ngân hàng
 Hội nhập-Phát triển
 Góc học tập
 CLB chuyên ngành
 CLB giải trí
 F-net Community
 Tìm kiếm
 For F-net Staff
 Nội quy F-net
 Nói về chúng tôi
 Giới thiệu về F-CMS
 »Radio Online
 VOV - channel 1
 VOV - channel 3
 Top hits channel
 Nikkei Radio
 Avex Musix online
 Rock 4 You
 IRadio Musix
 Classic Rock
 J-WAVE PM81.3
 Hot Metal Radio
 MegaRock Radio
 VTV1-TV
 VTV3-TV
 »Dinosaurs
Cô bé viết thư cho Bộ trưởng về cách dạy - học môn Sử, Địa
Bí quyết của một "tài năng lãnh đạo trẻ châu Á"
Cố gắng hết sức để không bao giờ phải hối hận về những gì mình đã làm
 »Từ điển online
Tra từ:

Sử dụng TĐ:




 
 »Online
There are 53 bạn đọc and 0 phóng viên online

Điểm tin kinh tế » Tin tài chính ngân hàng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam: Thực trạng và triển vọng
19/04/2005 ( 16914 lượt đọc )
Một trong những sự kiện kinh tế nổi bật năm 2004 đó là thành tích thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam vượt ngưỡng 4 tỷ USD. Đây là mức thu hút đầu tư nước ngoài cao nhất kể từ năm 1999 đến nay. Không chỉ gia tăng vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện cũng đạt được ở mức rất khả quan với con số 2,85 tỷ USD... cũng là mức cao nhất trong vòng 7 năm trở lại đây.

1. Tình hình thu hút và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2004

Năm 2004 được coi là năm có nhiều diễn biến thăng trầm của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm, mặc dù có thêm 189 dự án mới được cấp phép với số vốn đầu tư đăng ký đạt 621,6 triệu USD nhưng con số này vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2003 (giảm 33,7% về số dự án và 12,4% về vốn đăng ký). Có một số dự án quy mô vốn khá lớn đã được xây dựng từ năm 2003, dự kiến trình hồ sơ xin phép vào những tháng đầu năm 2004 nhưng đã hoãn lại hoặc chuyển sang đầu tư ở nước khác. Tuy nhiên, từ tháng 6/2004, với những nỗ lực của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư thì dòng vốn đầu tư nước ngoài bắt đầu có chuyển biến ngoạn mục. Từ tháng 9 năm 2004, số vốn đầu tư được cấp phép mới lại bắt đầu vượt mức cùng kỳ của năm 2003. Nếu xem xét cả năm thì tình hình đầu tư nước ngoài của Việt Nam về căn bản có chuyển biến tích cực: tăng cả về số vốn đầu tư đăng ký mới và vốn bổ sung từ các dự án đang hoạt động.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả năm 2004 đã có 679 dự án được cấp phép đầu tư mới với tổng vốn đăng ký đạt 2.084 triệu USD, tăng 4,6% so với năm 2003. Cũng trong năm 2004, có 458 lượt dự án đầu tư tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 1.935 triệu USD tăng tới 70,5% so với năm 2003 đưa tổng số vốn đăng ký đầu tư năm 2004 vượt ngưỡng 4 tỷ USD (mức cao nhất kể từ năm 1999 trở lại đây). Với kết quả khả quan như vậy, Việt Nam đã hoàn thành kế hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2001-2005 từ cuối 2004.

Với kết quả của năm 2004, tính đến nay cả nước có khoảng 5.130 dự án FDI còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 45,91 tỷ USD. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 66,99% về số dự án và 58,28% số vốn đăng ký, lĩnh vực dịch vụ chiếm 19,35% số dự án và 34,22% vốn đăng ký, lĩnh vực nông nghiệp chiếm 13,66% số dự án và 7,5% vốn đăng ký.

Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh mẽ dòng vốn đầu tư vào Việt Nam trước hết là do sự phục hồi của dòng chảy vốn FDI toàn cầu sau một thời gian giảm sút. Tuy nhiên, nguyên nhân mang tính chất quyết định là do những chuyển biến tích cực của môi trường đầu tư tại Việt Nam trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả.

Môi trường đầu tư thuận lợi, ổn định với mức tăng trưởng kinh tế cao đã tạo ra sự bứt phá và đủ sức hấp dẫn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các quốc gia trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế này cũng cho thấy, việc xếp hạng năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2004 chỉ có ý nghĩa tham khảo chứ không phải là yếu tố quyết định dòng chảy đầu tư nước ngoài. Điều này không chỉ đúng đối với Việt Nam, mà cả đối với Trung Quốc. Theo đánh giá của WEF, Trung Quốc xếp thứ 46/104 về năng lực cạnh tranh nhưng quốc gia này là một trong những nước đứng đầu thế giới về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (năm 2004 nước này thu hút khoảng 60 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).

Mười chuyển biến tích cực về môi trường đầu tư
tại Việt Nam năm 2004

- Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân sửa đổi theo hướng cơ bản thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu có hiệu lực.

- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan với việc ban hành “10 kỷ cương đối với công chức hải quan”.

- Lộ trình xóa bỏ chế độ 2 giá được tiếp tục đẩy mạnh, giá cước viễn thông giảm.

- Tích cực xây dựng luật đầu tư chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

- Luật đất đai với những quy định rõ ràng hơn về thủ tục và quyền sử dụng đất của người nước ngoài đã bắt đầu có hiệu lực từ 01/7/2004.

- Luật cạnh tranh và chống độc quyền đã được Quốc hội thông qua

- Bắt đầu triển khai thực hiện Nghị định 38/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sang hình thức công ty cổ phần.

- Hội nghị “Đầu tư tại Việt Nam” lần đầu tiên được tổ chức theo sáng kiến của hai Thủ trưởng Việt Nam và Singapore.

- Hội nghị “Bàn tròn về đầu tư tại Việt Nam” do Economist conference lần đầu được tổ chức với sự tham gia của 500 đại biểu.

- Hoạt động xúc tiến đầu tư tại các địa phương được đẩy mạnh.

Bên cạnh việc tăng quy mô vốn đăng ký, điểm đáng lưu ý trong thu hút đầu tư nước ngoài của năm 2004 là số vốn bổ sung từ các dự án đang hoạt động có xu hướng tăng mạnh (70,5%). Đây cũng là năm thứ tư liên tục mức vốn của các dự án đang hoạt động bổ sung vốn để mở rộng quy mô sản xuất. Điều này một mặt thể hiện môi trường đầu tư và kinh doanh của Việt Nam ngày càng được cải thiện, khả năng sinh lợi của các dự án đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn tiếp tục mở rộng quy mô kinh doanh. Các nhà đầu tư ngày càng yên tâm bỏ vốn kinh doanh tại Việt Nam. Mặt khác, điều này cũng thể hiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng rất khả quan. Bởi kinh doanh có hiệu quả thì họ mới tiếp tục đầu tư. Mặc dù, một phần của vốn đầu tư bổ sung có thể có nguồn gốc từ khấu hao của các dự án đang hoạt động. Tuy nhiên, đó vẫn là biểu hiện cho cảm nhận tích cực của các nhà đầu tư đã và đang hoạt động tại Việt Nam. Kết quả điều tra trong một nghiên cứu của Đại sứ quán Hàn Quốc và Phòng Xúc tiến Thương mại và đầu tư Hàn Quốc là một trong những minh chứng thuyết phục. Theo nghiên cứu này, 92,5% số nhà đầu tư Hàn Quốc bày tỏ rằng họ rất hài lòng về môi trường đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, 61% nhà đầu tư được hỏi khẳng định rằng họ vẫn đang có ý định đầu tư thêm vào Việt Nam.

Không chỉ gia tăng mức vốn đăng ký, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2004 cũng vẫn tiếp tục gia tăng và đạt mức cao nhất trong vòng 7 năm trở lại đây với con số 2,85 tỷ USD (tăng 7,5% so với năm 2003). Sự gia tăng của vốn đầu tư thực hiện có đóng góp rất đáng kể cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Dự kiến giá trị doanh thu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 18,6 tỷ USD, tăng 43% so với năm 2003; xuất khẩu 8,6 tỷ USD, tăng 64,5% so với năm 2003, nhập khẩu 8,9 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2003, nộp ngân sách 800 triệu USD.

2. Những tồn tại và hạn chế của hoạt động đầu tư nước ngoài thời gian qua:

Như vậy, trong năm 2004, công tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đều có những bước chuyển vượt trội so với năm 2003. Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với nhu cầu và khả năng. So với năm 2001 thì số vốn cấp phép mới vẫn thấp hơn 204 triệu USD. Nếu so với năm 1996 (số vốn đăng ký mới là 8.640 triệu USD) thì mức vốn đăng ký mới vẫn còn một khoảng cách lớn cần phải nỗ lực lớn mới đạt được. Đối với vốn đầu tư thực hiện, mặc dù có tăng nhưng với tốc độ không cao. Năm 2004, dự kiến vốn đầu tư thực hiện là 2.850 triệu USD, chỉ tăng 7,55%. Rõ ràng cả số lượng và tốc độ của vốn thực hiện đều thấp hơn so với vốn đăng ký.

Về cơ cấu đầu tư vẫn tồn tại một số bất cập. Thứ nhất, theo đánh giá của UNCTAD trong Báo cáo Đầu tư Thế giới 2004 (World Investment Report 2004), thì xu hướng đầu tư toàn cầu những năm gần đây là hướng vào lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, Việt Nam với tư cách là nước tiếp nhận vốn đầu tư, vẫn đang trong tình trạng khó khăn trong việc khai thác đầu tư tiềm năng vào lĩnh vực dịch vụ. Theo số liệu thống kê gần đây nhất, thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam vẫn ở mức thấp trong cơ cấu vốn đầu tư thu hút mới (16,3%). Rào cản lớn nhất của đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ hiện nay chính là hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực dịch vụ chưa đồng bộ, thiếu rõ ràng, thông thoáng, thậm chí mới dừng ở mức thí điểm. Bên cạnh đó, sự tham gia của khu vực tư nhân trong đầu tư và cung ứng dịch vụ hạ tầng còn nhiều hạn chế cũng được đánh giá là nhân tố cản trở sự phát triển của khu vực dịch vụ nói chung và khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển dịch vụ nói riêng. Thứ hai, mặc dù có sự chuyển biến trong xúc tiến đầu tư tại các địa phương và sự khởi sắc trong thu hút FDI tại một số địa phương và vùng lãnh thổ nhưng chuyển biến tích cực không đồng đều. Sự phối kết hợp giữa các địa phương trong các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài chưa chặt chẽ. Vẫn tồn tại tình trạng cạnh tranh nhau trong thu hút đầu tư với biện pháp chủ yếu là đưa ra các ưu đãi đặc biệt, giảm tiền thuê đất, miễn giảm thuế... Điều này thể hiện công tác quy hoạch thu hút đầu tư và xúc tiến đầu tư của Việt Nam nói chung vẫn còn bất cập. Việc lạm dụng các chính sách ưu đãi có thể sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân sách và lợi ích của xã hội. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy các ưu đãi và chính sách miễn giảm thuế không phải là yếu tố duy nhất nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn, nghiên cứu (do Trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh và dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh thực hiện) mới công bố cuối năm 2004 thì ưu đãi thuế không phải là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra của nghiên cứu này cho thấy cứ 100 nhà đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thì có đến 83 nhà đầu tư vẫn thực hiện dự án ngay cả khi không có ưu đãi. Khảo sát của VCCI cũng cho thấy ưu đãi đầu tư không phải là biện pháp tốt nhất để thu hút đầu tư, yếu tố gây sự khác biệt giữa các địa phương chính là “độ minh bạch, tinh thần trách nhiệm và tính năng động của chính quyền địa phương”.

Trong số các quốc gia đầu tư vào Việt Nam, đến năm 2004, phần vốn đầu tư mới chủ yếu vẫn đến từ các nước và vùng lãnh thổ châu Á như Đài Loan (35,5%), Nhật Bản (13,4%), Hàn Quốc (8,8%), Singapore (7,5%). Đầu tư của Hoa Kỳ và EU trong năm 2004 vẫn ở mức thấp (chưa lọt vào danh sách 10 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam). Đã xuất hiện một số dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ nhưng số dự án lớn gắn với chuyển giao công nghệ nguồn vẫn còn ít. Điểm đáng chú ý là trong số các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn thiếu vắng khá nhiều các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC). Đặc biệt, các tập đoàn xuyên quốc gia được đánh giá vẫn còn e dè khi đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ trước những rào cản vô hình. Một số tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào Việt Nam thì cũng chủ yếu dưới hình thức liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Bên cạnh đó, một số tồn tại khác trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 2004 cũng cần được kể đến đó là: vẫn còn một số ách tắc trong thủ tục cấp phép đầu tư, hoặc một số dự án được cấp phép trong thời gian khá lâu nhưng triển khai chậm, thậm chí chưa triển khai; Công tác quản lý dự án tại một số địa phương còn nhiều bất cập, năng lực và trách nhiệm trong công việc của một bộ phận cán bộ công chức còn hạn chế dẫn đến việc chậm giải quyết đề nghị của nhà đầu tư hoặc xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai dự án còn chưa thỏa đáng làm nản lòng nhà đầu tư.

3. Triển vọng thu hút đầu tư và khuyến nghị các biện pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Sau ba năm giảm liên tục, sang năm 2004 dòng vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi toàn cầu đã phục hồi. Tất cả các đánh giá của UNCTAD trong Báo cáo Đầu tư Thế giới 2004, của Ngân hàng Thế giới (WB) trong Báo cáo Tài trợ Phát triển Toàn cầu 2004, đều khẳng định xu hướng gia tăng FDI trên phạm vi toàn thế giới. Theo EIU đầu tư toàn cầu năm 2004 là 754,8 tỷ USD, năm 2005 dự kiến sẽ đạt 883,7 tỷ USD và đến năm 2008 sẽ là 1.165,7 tỷ USD. Trong đó, dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển cũng phục hồi và gia tăng.
Với xu hướng phục hồi của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi toàn cầu và quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong cam kết mở cửa hội nhập, hoàn thiện môi trường đầu tư, nhất là quy hoạch ngành được điều chỉnh theo hướng xóa bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài, các hình thức đầu tư được đa dạng hóa, thủ tục hành chính được cải cách triệt để, hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài được đẩy mạnh hơn thì nhất định trong thời gian tới đầu tư trực tiếp vào Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng. Dự báo vốn đầu tư nước ngoài được cấp mới vào Việt Nam năm 2005 sẽ đạt khoảng 4,2-4,5 tỷ USD. Vốn thực hiện sẽ đạt từ 3,0-3,1 tỷ USD.

Tuy nhiên, để tạo chuyển biến cơ bản dòng vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 8,5% vào năm 2005 như nghị quyết mà Quốc hội đã thông qua thì trong giai đoạn tới cần tập trung vào những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện hơn nữa môi trường đầu tư đồng thời khắc phục những yếu kém và tồn tại mà năm 2004 còn chưa giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để. Cụ thể, các giải pháp cho năm 2005 cần phải tập trung là:

Thứ nhất là tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư: trong quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư cần phải nhận thức sâu sắc rằng mục tiêu là tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn cho tất cả mọi người, như thông điệp trong Báo cáo Phát triển Thế giới 2005 vừa được Ngân hàng Thế giới ấn hành. Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người được hiểu là môi trường đầu tư phải mang lại lợi ích cho toàn thể xã hội chứ không chỉ cho doanh nghiệp. Vì thế, việc điều tiết và đánh thuế phải được cân nhắc kỹ lưỡng nhằm đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp cũng như nhu cầu xã hội. Môi trường đầu tư tốt cũng là môi trường đầu tư đảm bảo tính công bằng và hiệu quả cho tất cả các loại hình doanh nghiệp không kể quy mô, hình thái, sở hữu vốn, trong nước hay nước ngoài. Cụ thể cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo tính minh bạch và dễ tiên đoán, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống hành chính phục vụ đầu tư. Minh bạch hóa quy trình và thủ tục đầu tư. Cải tiến quy trình thẩm định dự án theo hướng mở rộng diện đăng ký cấp phép đầu tư, rút ngắn thời gian thẩm định, từng bước chuyển sang chế độ “tiền đăng, hậu kiểm”. Tiếp tục phân cấp mạnh hơn gắn tăng cường trách nhiệm của các địa phương trong quản lý và thu hút đầu tư nước ngoài. Chú trọng đến nhân tố con người, nâng cao ý thức, năng lực và trách nhiệm của các công chức quản lý nhà nước về đầu tư.

Thứ hai là tiếp tục tháo gỡ những rào cản trong công tác quy hoạch: khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch ngành nhằm dỡ bỏ các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài phù hợp với các cam kết quốc tế song phương và đa phương. Trong quy hoạch cần quan tâm thỏa đáng đến lợi thế so sánh của từng ngành và từng địa phương trong thu hút đầu tư nước ngoài. Cần khắc phục ngay những bất hợp lý trong quy hoạch theo kiểu truyền thống: nặng quy hoạch theo địa giới hành chính, nhẹ quy hoạch thống nhất mang tính liên vùng. Nhanh chóng bổ sung và hoàn chỉnh danh mục quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Tăng cường đầu tư nâng cấp các công trình cơ sở hạ tầng như cung cấp điện, nước, các công trình giao thông, cảng biển nhằm tạo thuận tiện cho các nhà đầu tư.

Thứ ba là tháo gỡ những vướng mắc trong triển khai thực hiện dự án: Thực tế năm 2004 cho thấy vốn thực hiện còn rất thấp so với vốn đăng ký. Vì vậy trong giai đoạn tới cần tiếp tục rà soát các dự án đã được cấp phép, trên cơ sở đó tập trung tháo gỡ các khó khăn và vướng mắc nhằm thúc đẩy triển khai dự án, hỗ trợ các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Tháo gỡ những vướng mắc về đất đai cho các nhà đầu tư còn tồn tại. Thực hiện kiên quyết việc giải thể các dự án không có khả năng triển khai nhằm thu hồi đất cho các dự án mới. Có các biện pháp mạnh và kiên quyết trong công tác đền bù và giải phóng mặt bằng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các dự án lớn, chuyển giao công nghệ nguồn mở rộng sản xuất kinh doanh.

Thứ tư là đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức xúc tiến đầu tư: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc vận động, xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Đài Loan... dưới nhiều hình thức khác nhau; tăng cường thông tin về đầu tư nước ngoài qua các phương tiện thông tin đại chúng đặc biệt là internet; Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Ngoại giao tăng cường đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn kết hợp với cơ quan ngoại giao để vận động đầu tư. Xây dựng quỹ Xúc tiến đầu tư quốc gia nhằm tạo điều kiện để tăng cường xúc tiến hoạt động đầu tư. Tạo cơ chế thích hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị tư vấn đầu tư hoạt động có hiệu quả. Xây dựng và cập nhật ngân hàng thông tin về đầu tư nước ngoài.

Tăng cường sự hợp tác giữa các địa phương trong việc xúc tiến đầu tư. Nâng cao năng lực điều phối trong xúc tiến đầu tư của Cục Đầu tư nước ngoài-Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Trong hoạt động xúc tiến đầu tư của các địa phương cần chú ý đến tính đặc thù và lợi thế so sánh với nhận thức sâu sắc rằng các ưu đãi đặc biệt không phải bao giờ cũng là tốt nhất trong vận động thu hút đầu tư.

(Nguồn: KTPT)

Những tin khác được gửi bởi lenhuan1912


Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam: Thực trạng và triển vọng | 0 Comments
Để đưa ý kiến của mình về bài viết bạn cần phải nhập mã xác nhận Security Code là dòng chữ số in đậm ở phía dưới.

29995   

» Tin tức khác cùng chủ đề
Cần có những bước cải tổ mạnh tay 17/04/2005
Làm sao phát hiện USD "siêu giả"? 17/04/2005
Nóng bỏng chuyện lương nhân lực tài chính 17/04/2005
Ba thách thức lớn của ngân hàng quốc doanh 15/04/2005
Quốc doanh dành phần "anh cả" 14/04/2005
Trung Quốc không vội định giá lại Nhân dân tệ 13/04/2005
USD sẽ còn tăng giá? 12/04/2005
Chống tiền giả bằng những biện pháp thông dụng 12/04/2005
Ngân hàng đề nghị được tham gia vào quá trình chuyển đổi công ty nhà nước 08/04/2005
Giữ nguyên tỷ giá USD/VND 06/04/2005

» Bài viết mới nhất
Không nên chuyển VND sang USD- 25/11/2008
Trung Quốc có an toàn trước “bão” tài chính Mỹ?- 02/10/2008
Tiếp bài 2 : Công nghiệp điện tử của Nhật- 13/08/2008
Bài 2 : Ngành công nghiệp Nhật Bản phát triển mạnh mẽ nhờ công nghệ- 11/08/2008
Vì sao Trung Quốc và Ấn Độ nói “Không” với Mỹ?- 02/08/2008
Kinh tế VN 6 tháng cuối năm: Cơ hội-rủi ro song hành- 02/08/2008
Từ chuyện Sony ngừng sản xuất- 26/07/2008
Trượt giá là cơ hội để cơ cấu lại nền kinh tế- 11/07/2008
Chuyên đề 2 : Nhật Bản - Xứ sở hoa Anh đào - 07/05/2008
Lễ hội hoa Anh Đào năm 2008 tại Việt Nam - Những khoảnh khắc được và mất - 07/05/2008
  Tiêu điểm
Kinh tế VN 6 tháng cuối năm: Cơ hội-rủi ro song hành
Bán trái phiếu doanh nghiệp dễ hơn, cách nào?
Chứng khoán xanh trở lại
“Nhức đầu” vì mất người tài
“Nhà bếp của thế giới”: Người Thái đã đi trước
Ông trùm kim cương của Israel
Ông chủ trẻ với những giấc mơ toàn cầu
Việt Nam - con rồng nhỏ đang lớn mạnh
Nhiều khả năng xăng tăng giá sau ngày 10/5
Bill Gates diện kiến Thủ tướng
Giảng viên trẻ và "hy vọng 10 năm"
Nữ doanh nhân Việt: Những bông hồng cứng cáp
Sáng nay, xử vụ "chạy quota" ở Bộ Thương mại
Giảng viên trẻ... thời @!
Vụ bổ nhiệm TGĐ kỳ lạ nhất trên TTCK Việt Nam