| VnMedia) - Sau 9 ngày thảo luận, vòng đàm phán về cắt giảm trợ cấp nông nghiệp trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã kết thúc hôm 29/7 mà không đạt được kết quả nào. Lý do là cả Trung Quốc và Ấn Độ đều nói “Không” với những đề xuất mà Mỹ đưa ra. Tại sao lại như vậy? Trên thực tế, Trung Quốc và Ấn Độ rất ít khi đứng về một phía. Đây là những quốc gia đông dân nhất thế giới và cũng là hai trong số những nền kinh tế đang tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, tuy nhiên thể chế chính trị tại hai nước này lại hoàn toàn khác nhau. Do đó, họ thường không có cái nhìn chung trong mối quan hệ với Mỹ. Một thời gian dài, Trung Quốc đã hỗ trợ đắc lực cho Pakistan, một “kẻ thù” của Ấn Độ. Hơn nữa, người Ấn thường có cái nhìn ganh tị với sức mạnh trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc, trong khi người Hoa luôn muốn đạt được sự thành công mà Ấn Độ có được trong lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin. Mặc dù vậy, sau sự thất bại của vòng đàm phán mới đây nhất về cắt giảm trợ cấp nông nghiệp, hai nền kinh tế khổng lồ của châu Á này tự nhận thấy họ đang đi cùng trên một con thuyền. Cuộc đàm phán trong khuôn khổ Vòng đàm phán Doha về vấn đề cắt giảm trợ cấp nông nghiệp đã kết thúc với thất bại ê chề. Mỹ đổ lỗi sự thất bại này cho thái độ không hợp tác của Ấn Độ và Trung Quốc. Một số quốc gia khác cũng chê trách New Delhi và Bắc Kinh. Tổng thư ký Nội các Nhật Bản Nobutaka Machimura đã phát biểu tại cuộc họp báo hôm 30/7 rằng, thay vì quan tâm giải quyết những khúc mắc mang tính toàn cầu, Ấn Độ và Trung Quốc “tập trung quá nhiều vào những lợi ích của chính họ”. Nỗi lo bất ổn khu vực nông thôn
Những sự chỉ trích trên có thể là hơi quá, nhưng thực tế là cả Trung Quốc và Ấn Độ đều không muốn đối mặt với những sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Cả hai nước đều đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhờ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Và tại cùng thời điểm, các nhà lãnh đạo hai nước cũng đang phải lo lắng về những khó khăn kinh tế tại khu vực nông thôn, nơi hàng trăm triệu nông dân của họ phải vật lộn để cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu từ Mỹ và các quốc gia khác.
Ví dụ như tại Trung Quốc, họ đã phải cố gắng trong nhiều năm để giảm nhẹ những tổn thương kinh tế cho khu vực nông thôn. Sự bùng nổ kinh tế của các tỉnh ven biển màu mỡ đã để lại phía sau một khu vực nông thôn khoảng 500 triệụ người lao đao. Và theo như ông Wang Yong, chuyên gia xã hội và cũng là giám đốc Trung tâm kinh tế chính trị Quốc tế của Đại học Peking, “kinh tế hộ nông dân Trung Quốc đã rất yếu ớt”.
Tất nhiên, sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc không thể đáp ứng tất cả nhu cầu cho quốc gia này. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, nhập khẩu đậu tương đã tăng 53% vào năm ngoái lên 11,5 tỉ USD. Tổng giá trị hàng hoá nông nghiệp nhập khẩu trong năm 2007 lên tới 41 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2006. Trong khi Bắc Kinh đã thực hiện một số biện pháp nhằm giảm bớt gánh nặng cho người nông dân bằng việc giảm thuế, nhưng sự mất cân đối vẫn là nỗi lo lớn cho các nhà lãnh đạo đất nước này. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nhiều lần nhấn mạnh về sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển các khu vực nông thôn.
Tại Ấn Độ, sức ép thậm chí còn khắc nghiệt hơn. Trong khi các nhà lãnh đạo Bắc Kinh mới chỉ lo lắng về khả năng bất ổn có thể xảy ra tại khu vực nông thôn, thì các nhà lãnh đạo tại New Delhi phải đối mặt các cuộc nổi dậy của nông dân. Naxalites, một nhóm nổi loạn đóng tại một số khu vực nông thôn phía đông và trung Ấn, đã nhằm vào những người nông dân nghèo để “chiêu hiền nạp sỹ”.
Chính phủ Ấn Độ còn có những lý do khác phải lo lắng về những nông dân nghèo. Đối với liên minh đang dẫn đầu tại Quốc hội Ấn Độ, trợ cấp nông sản vẫn là một quân bài chính trị quyết định. Gần 70% dân số sống tại nông thôn và thu nhập của phần lớn người dân Ấn đều trực tiếp hoặc gián tiếp đến nông nghiệp, mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm không quá 1/5 nền kinh tế gần nghìn tỷ USD này. Vì thế, theo ngài Swaminathan, Giám đốc Uỷ ban quốc gia về Nông nghiệp và cũng là người dẫn đầu cuộc Cách mạng xanh tại Ấn Độ những năm 70, “nếu chính phủ đồng thuận với bất cứ chính sách nào gây tổn hại cho lĩnh vực nông nghiệp của chúng tôi, thì sau đó tương lai chính trị của họ cũng sẽ kết thúc”. Thực tế, nông nghiệp đã từng bị "lãng quên" tại Ấn Độ và 700 triệu người đã chịu tác động từ việc này.
Trong thập kỷ vừa qua, do Ấn Độ đã quá tập trung vào việc mở cửa và tái thiết các lĩnh vực đã phát triển, tăng trưởng nông nghiệp vì thế bị chậm lại. Ví như trong ngành sản xuất bông, việc cắt giảm chi phí trợ cấp dưới hình thức kiểm soát giá cả của chính phủ đã thực sự gây nên hậu quả thảm hại. Mặc dù là nước sản xuất bông lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc, nhưng bông Ấn Độ không thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Người trồng bông tại miền trung nước này đã chìm ngập trong nợ nần kéo dài cả thập kỷ. Theo thống kê của chính phủ, hơn 160.000 nông dân đã tự giết mình bởi những khoản nợ này. Và chính điều này đã thúc giục chính phủ thông báo từ bỏ khoản vay 15 tỷ USD từ ngân sách hiện tại.
Lạm phát cũng là một nguyên nhân
Một trong những lý do khiến Ấn Độ vẫn muốn bảo hộ trong lĩnh vực nông nghiệp là tình trạng leo thang giá lương thực mà nước này đang phải đối mặt. Giá các mặt hàng ngũ cốc cơ bản và các loại đậu đã tăng 25% trong 3 năm vừa qua.
Việc duy trì sự ổn định trong lĩnh vực nông nghiệp là chìa khóa giúp chế ngự mức lạm phát gần 11% hàng năm. Đây là vấn đề không chỉ là mối đe dọa với chính phủ hiện tại mà còn đe dọa tới mức thu nhập còm cõi và việc nâng cao dinh dưỡng trong tầng lớp người nghèo tại Ấn Độ.
Theo ông Karkade Nagraj, chuyên gia nông nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển Madras: “Bạn không thể tách rời những tác động đối với người nông dân Ấn Độ từ những chính sách của WTO khỏi với những gì đang diễn ra trong nền kinh tế thế giới. Với cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính hiện nay, một số lượng lớn tiền đang dịch chuyến sang thị trường hàng hóa, dẫn tới sự bùng nổ giá cả hàng hóa. Trong điều kiện như vậy, nếu bạn mở cửa lĩnh vực nông nghiệp, người nông dân có thể thu lợi, nhưng điều này sẽ không duy trì được trong một thời gian dài”.
Và với nền kinh tế toàn cầu chịu tác động từ sự giảm sút kinh tế Mỹ: tín dụng đóng băng, giá dầu, thép và lương thực cao ngất ngưởng, các chuyên gia cho rằng, chính phủ của các bên đều lo lắng về rủi ro của bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào. Điều này cũng có nghĩa là ít khả năng Trung Quốc và Ấn Độ nhượng bộ trong những bất đồng thương mại hiện nay.
Kiều Anh - (theo Economist)
|