 | | Con đường đến thị trường tự do xem ra vẫn còn xa vời với các nước xuất khẩu |
Đầu năm nay, Ukraina đã trở thành một nền kinh tế thị trường sau tuyên bố của Bộ trưởng Thương mại Mỹ David Sampson. Rất có thể Việt Nam sẽ phải đợi đến 2019 cho một phán quyết tương tự, cho dù Việt Nam đã được chấp nhận trở thành thành viên thứ 150 của WTO.
Cho dù về mặt nguyên tắc, WTO được xây dựng trên nguyên tắc mỗi nước thành viên đối xử công bằng với nhau. Nhưng như một cái giá của sự gia nhập, những nước vào sau luôn phải chịu những điều khoản ngặt nghèo hơn. Để được gia nhập tổ chức này, bên cạnh những nhượng bộ về cắt giảm trợ cấp, mở cửa thị trường cho một loạt mặt hàng, mở cửa thị trường tài chính, Việt Nam cũng phải chấp nhận bị giữ lại trong danh sách các nước bị coi là có “nền kinh tế phi thị trường”, bên cạnh Trung Quốc và một vài nước thành viên khác của WTO. Những hệ lụy của phi thị trường Cái dễ thấy nhất là sự khó khăn của Việt Nam trong việc tự bảo vệ trước đe dọa bị kiện bán phá giá. Lấy đơn cử thị trường Mỹ. Theo quy định của Mỹ, bán phá giá xảy ra khi một hãng xuất khẩu bán ra nước ngoài một sản phẩm thấp hơn giá trong nước, hoặc thấp hơn chi phí sản xuất. Đúng hơn là những thoả thuận mua bán tự do này bị các nước nhập khẩu coi là chào hàng gian lận và nâng mức thuế chống bán phá giá. Thế nhưng điều đáng bàn là cái căn cứ để Bộ Thương mại Mỹ cho rằng một mặt hàng nhập khẩu là quá rẻ? Tạm bỏ qua các thủ thuật về số liệu, các cách tính “quy về không” đã làm tốn không biết bao nhiêu cuộc cãi vã, thì với một nền kinh tế phi thị trường, việc này trở nên quá dễ với Bộ Thương mại Mỹ (DOC). Trong trường hợp này, DOC đơn giản kết luận không cần điều tra tính toán giá tại nước sở tại bởi, đã là phi thị trường, thì cung và cầu cũng là những con số phi thị trường, và đương nhiên không thể lấy giá do nước bị kiện phá giá cung cấp làm cơ sở để điều tra. Thay vì vậy, DOC sẽ chọn một nước thay thế khác có điều kiện tương tự Việt Nam – dĩ nhiên là do DOC chọn. Theo cách này, năm 2003, Bộ Thương mại Mỹ đã đánh thuế nhập khẩu cá tra, basa philê với mức 37-64%. Phán quyết và biên độ giá đã bị tác động bằng những tính toán giá thành cá phi lê của Việt Nam, nhưng xét theo giá nuôi của một trang trại cá ở Kishoregonj, Bănglađet, nơi phải dùng nước mua từ Ấn Độ, phải chuyên chở bằng xe tải. Mỹ là thị trường lớn nhất của Việt Nam và là nước đầu tiên sử dụng biện pháp thuế chống bán phá giá với Việt Nam. Nhưng không chỉ Mỹ. Tháng 10 năm nay, Liên minh châu Âu EU đã khẳng định Việt Nam bán phá giá sản phẩm giày da, căn cứ vào giá của Brazil - nước được chọn làm nước thay thế để tính giá thành. Năm ngoái, 2005, EU cũng đã đánh thuế đối với xe đạp Việt Nam, và mức giá dùng cho điều tra được so sánh với giá xe đạp sản xuất tại San Luis Potosi, Mexico. Tại sao lại phi thị trường Nhưng theo tiêu chuẩn nào Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường? Đơn giản nhất là vi EU, Mỹ và các nước lớn khác có luật lệ của riêng mình. Lý do mà Mỹ nêu ra là muốn Việt Nam loại bỏ việc kiểm soát tỷ giá và cố định giá, thông thoáng hơn nữa cho đầu tư nước ngoài, tự do thương lượng tiền lương và hạn chế phát triển khu vực sở hữu nhà nước. Thế nhưng chẳng phải ai cũng hài lòng về những rào cản này. Các nhà bán lẻ tại ngay nước Mỹ sẽ là những người đầu tiên phản đối những rào cản bảo hộ. Đương nhiên họ phải thích hàng dệt may hay thủy sản giá rẻ từ Việt Nam hơn những người sản xuất ở nuớc Mỹ rồi. Rốt ráo, học thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và lý thuyết thương mại tự do cũng chỉ là chuyện nói cho vui. Quyền lực của thương mại vẫn nằm ở đâu đó giữa các nhóm lợi ích tại các nước giàu. Và mọi thứ rủi ro thì cứ dồn về phía các nước xuất khẩu.
Thương mại thế giới liệu có thể có công bằng khi cái mà nó thể hiện ra, cho đến nay, vẫn là một cuộc chơi mà một phía luôn được quyền áp đặt luật chơi của mình cho phía kia, cuộc chơi mà dòng rủi ro luôn chảy theo một chiều duy nhất. Con đường đến thị trường tự do xem ra vẫn còn xa lắm.
Theodantri
|