 | | Sơ đồ Nhật Bản | Là một quốc gia không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, diện tích nhỏ hẹp lại luôn phải chịu hậu quả của thiên tai, đặc biệt hậu quả từ sau Thế Chiến thứ 2, tuy nhiên Nhật Bản ngày nay đã trở thành một cường quốc trên Thế giới không chỉ là đất nước đi đầu về khoa học công nghệ mà còn là một quốc gia có tầm ảnh hưởng kinh tế lớn đối với tất cả các quốc gia khác. Chuyên đề lần này sẽ đi sâu vào tìm hiểu về Nhật Bản, với các mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội và quan hệ đối ngoại. Với chuyên đề này cũng như chuyên đề về Trung Quốc, nhóm thực hiện hi vọng có thể thu được nhiều những kinh nghiệm cho sự phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn hiện tại. Phần 1 : Khái quát về Nhật Bản
1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí – địa hình
Quần đảo Nhật Bản nằm cách bờ phía đông lục địa Châu Á, trải ra theo một vòng cung dài, hẹp dài 3.800km. Tổng diện tích của Nhật Bản khoảng 377815 km2 - bằng 1/25 của Mĩ, gấp 1.14 lần diện tích Việt Nam và chỉ chiếm chưa tới 0,3 % diện tích toàn thế giới.
Quần đảo này gồm 4 đảo chính Honshu, Hokkaido, Kyu shu và shikoku ( thứ tự từ nhỏ tới lớn nhất )- nhiều dãy đảo và khoảng 3900 đảo nhỏ. Riêng đảo Honshu chiếm 60 % diện tích Nhật Bản.
Trong số các hòn đảo nhỏ, đảo Okinawa (沖縄) là lớn nhất và quan trọng nhất, nằm giữa đường kéo dài từ mỏm phía cực tây của đảo Honshu tới đảo Đài Loan. Hòn đảo Okinawa này tuy thuộc về Nhật Bản nhưng trước kia do ở khá xa phần đất chính nên đã phát triển được một thứ văn hóa riêng và một số điểm khác biệt với nếp sống của bốn hòn đảo lớn.
Sóng thần, động đất, núi lửa, bão nhiệt đới khá phổ biến ở Nhật Bản. Đặc biệt, do thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương, Nhật Bản là một trong những vùng có nhiều động đất nhất thế giới. Mỗi năm có hàng trăm dư chấn, có những trận động đất gây tổn thất nặng nề.
Nhật Bản là một xứ sở có phong cảnh được coi là một trong những nơi đẹp nhất thế giới với bốn mùa thay đổi rõ rệt: mùa xuân với hoa anh đào nở dần từ nam lên bắc, mùa hè cây cối xanh mướt, mùa thu lá phong (momiji) đỏ thắm từ bắc xuống nam, mùa đông tuyết trắng tinh khôi. Ngọn Núi Phú Sĩ(Fujisan) cao nhất Nhật Bản, nằm giữa đồng bằng, lại có tuyết bao phủ nơi phần đỉnh núi, là nguồn cảm hứng của rất nhiều văn sĩ và thi sĩ xứ Phù Tang cũng như của các văn nghệ sĩ, trong đó có các nhiếp ảnh gia và họa sĩ khắp bốn phương.
 | | Núi Phú Sĩ Nhật Bản |
Khí hậu
Quần đảo Nhật Bản nằm ở vùng khí hậu ôn hòa và ở cực đông bắc của khu vực gió mùa chạy từ Nhật Bản qua bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam Á tới tận Ấn Đô. Khí hậu nói chung ôn hòa mặc dù khác nhau giữa các miền chủ yếu do các dòng khí lưu lục địa thổi từ phía Tây Bắc chi phối khí hậu mùa đông và các dòng khí lưu đại dương thổi từ phía Đông nam tới chi phối khí hậu của tháng mùa hè.
Hầu hết các miền ở Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm bắt đầu vào giữa tháng 7, trước đó là mùa mưa kéo dài một tháng trừ Hokkaido- đảo lớn ở phía bắc hầu như không có mưa. Mùa đông nhiệt độ xuống thấp, tuyết rơi nhiều đặc biệt ở khu vực phía đông bắc. Mùa đông và mùa thu là những mùa tốt nhất trong năm, khí hậu êm dịu và rực rỡ ánh mặt trời trên khắp đất nước. Tuy nhiên, vào khoảng tháng 9 Nhật Bản thường có bão có thể làm lở đất bằng những trận gió mạnh và mưa như trút nước. Lượng mưa ở Nhật là rất lớn, từ 1000 tới 2500mm/ năm.
Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40.9 độ C - đo được vào 16 tháng 8, 2007.
Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo. Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim (temperate coniferous forests) vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo.
2. Yếu tố xã hội
Dân số
Dân số Nhật Bản ước tính khoảng 127.4 triệu người, phần lớn là đồng nhất về ngôn ngữ và văn hóa ngoại trừ thiểu số những công nhân nước ngoài, Zainichi Hàn Quốc, Zainichi Trung Quốc, Người Philippines, người Nhật gốc Brazil. Tộc người chủ yếu là người Yamato cùng với các nhóm dân tộc thiểu số như Ainu hay Ryūkyūans.
Nhật Bản có một trong những chỉ số tuổi thọ cao nhất thế giới, trung bình là 81.25 tuổi cho năm 2006. Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau thế chiến 2. Năm 2004, 19.5% dân số Nhật trên 65 tuổi .
Thay đổi dân số đã tạo ra các vấn đề xã hội, đặc biệt là sự suy giảm lực lượng lao động đồng thời gia tăng chi phí cho phúc lợi xã hội như vấn đề lương hưu. Nhiều người trẻ Nhật Bản hiện có xu hướng không kết hôn hoặc có gia đình khi trưởng thành. Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 và 64 triệu người vào năm 2100. Chính quyền và các nhà hoạch định dân số đang đau đầu để giải quyết vấn đề này. Nhập cư và gia tăng khuyến khích sinh đẻ đang được xem là giải pháp để cung cấp lực lượng lao động cho sự lão hóa của dân số nhằm duy trì sự phát triển của nền kinh tế khổng lồ lớn thứ hai trên thế giới.
Khoảng 84% đến 96% dân số Nhật theo cả đạo Shinto và phật giáo Đại Thừa. Phật Giáo, Đạo Giáo và Nho Giáo từ Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến niềm tin và tín ngưỡng của người Nhật. 7% dân số theo Đạo Cơ Đốc. Thêm vào đó, từ giữa thế kỷ 19, rất nhiều đạo giáo đã xuất hiện ở Nhật Bản như (Shinshūkyō).
 | | Tokyo Nhật Bản-Một minh chứng cho sự đông đúc dân số tập trung tại thành thị |
99% dân số nói tiếng Nhật. Đây là loại ngôn ngữ kết dính được phân biệt bởi một hệ thống các từ ngữ lễ giáo phản ánh xã hội tôn ti và trọng đạo đức của Nhật Bản, với các dạng động từ và từ vừng biểu hiện tính cách của người nói và người nghe. Tiếng Nhật đã vay mượn một lượng lớn từ vựng trong tiếng Trung và cả tiếng Anh (từ sau thế chiến II). Hệ thống chữ viết sử dụng kanji (các chữ viết Trung Quốc) và hai loại kana (bảng âm tiết dựa trên chữ tiếng Trung), cũng như Roman alphabet và số Arabic.Tiếng Ryūkyūan, một phần của ngữ hệ Japonic, được nói phần lớn ở Okinawa, chỉ có số ít người học ngôn ngữ này. Tiếng Ainu chỉ được sử dụng bởi một số ít người già bản địa còn sống tại Hokkaidō. Phần lớn các trường công và tư ở Nhật đều buộc học sinh phải học cả tiếng Nhật và tiếng Anh.
Giáo dục
Những cải cách được thực hiện từ thời Minh trị đã mở đường cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục ở Nhật Bản. Mục đích trung tâm của hệ thống giáo dục Nhật Bản là đào tạo ra những công dân có tinh thần tự lực của một quốc gia hòa bình và dân chủ, tôn trọng nhân quyền, yêu chuộng sự thật và hòa bình.
Điều kiện học tập ở Nhật Bản rất tốt có thể giúp học sinh phát huy hết khả năng của mình. Đây là một nguyên nhân khiến số lượng lưu học sinh tới Nhật học tập ngày một tăng, đặc biệt là nghiên cứu sinh, chuyên viên sang nâng cao trình độ chuyên môn.
Chế độ học tập và thi tuyển ở Nhật khá khắc nghiệt. Truớc đây khi đi xin việc làm, người ta thường có khuynh hướng chỉ đánh giá ứng viên xin việc qua cái mác trường đại học người đó đã tốt nghiệp. Nếu một ứng viên tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng với một thành tích chẳng mấy gì tốt đẹp cho lắm, người đó vẫn có thể dễ dàng xin việc hơn một sinh viên tốt nghiệp một truờng đại học ít tiếng tăm, cho dù với một thành tích xuất sắc cỡ nào đi nữa. Chính vì vậy, để xin được việc làm tốt ở một hãng lớn, các phụ huynh phải lo cho con em mình vào học ở một truờng trung học nổi tiếng. Ðể dễ vào học ở một truờng trung học đệ nhị cấp nổi tiếng, học sinh đó lại phải vào học một trường trung học đệ nhất cấp nổi tiếng ... Cứ thế, sự cạnh tranh thi cử lan dần xuống tới tiểu học. Ðể con cái mình trong tương lai được vào học ở một truờng đại học nổi tiếng, có một việc làm tốt, các bậc phụ huynh nhìn xa trông rộng, phải lo lắng cho con mình ngay từ bậc tiểu học.
Tổ chức đánh giá giáo dục quốc tế đã tiến hành hai cuộc khảo sát so sánh chất lượng học tập của sinh viên trên toàn thế giới. Kết quả là ở Nhật Bản, sự khác biệt về năng lực và thành tích học tập của sinh viên giữa các trường là tối thiểu, có lẽ là ít nhất trên thế giới. Hầu hết sinh viên, học sinh Nhật Bản đều làm chủ chương trình học.
Các chuyên gia giáo dục Nhật bản đã có nhiều dự án nghiên cứu về tình hình kinh tế – xã hội cũng như văn hoá lịch sử, lối sông người dân để tìm ra chươngt rình giáo dục phù hợp nhất cho mọi cấp. Người Nhật rất “dị ứng” với việc đem hệ thống giáo dục nước khác áp dụng vào nước mình. Có thể đó cũng là một yếu tố đưa hệ thống giáo dục Nhật Bản có được nhiều chuẩn mực riêng.
Tựu chung lại, Nhật Bản là một đất nước không có sự ưu ái của tài nguyên thiên nhiên nhưng với những chính sách kinh tế, xã hội phù hợp, đặc biệt là chính sách phát triển nguồn nhân lực có thể nói là một trong những chính sách đúng đắn của chính phủ Nhật Bản đã đưa Nhật Bản từ một đống đổ nát sau chiến tranh tiến lên là những người đi đầu của Thế giới hiện đại .
Billgate
|